GIỖ CHA THÁNH KHOA DỊP TÌM VỀ CỘI NGUỒN – NHỚ NGƯỜI ĐÃ KHUẤT

Mỗi độ Tết về hay Tháng linh hồn đến, cũng như mỗi dịp giỗ Tổ Cha Thánh Phêrô Vũ Đăng Khoa tới, hình ảnh quê hương, cũng như những người đã khuất và những người đang lưu lạc nơi đất khách quê người lại ùa về trong tâm trí nhiều đến thế! Bao kỷ niệm đẹp hiện lên kèm theo cảm giác vui buồn lẫn lộn.

Chưa bao giờ hình ảnh quê hương, ông bà, cha mẹ lại gần gủi đến thế. Bởi chúng ta mang ơn quê hương và tổ tiên, vì các ngài đã góp phần không nhỏ để xây dựng quê hương xứ sở Thuận Nghĩa có được ngày hôm nay. Nghĩ đến mà ngậm ngùi! Ngày xưa, khi quê hương còn nghèo, cuộc sống nhà nào cũng vất vả, long đong. Ông bà cha mẹ quá cực khổ, bởi các ngài đã hy sinh rất nhiều cho gia đình, cho con cháu và cho xứ sở. Giờ các ngài đã nằm xuống không còn nữa.

Một số người vì hoàn cảnh, phải xa rời quê hương để đi tìm miếng cơm manh áo, nhưng rồi vẫn có người cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, túng thiếu vẫn hoàn túng thiếu, cái nghèo vẫn còn đeo bám. Nhiều người đã nằm xuống nơi đất khách quê người như: Ông bà Tỳ, ông Bi, ông bà giáo Khoan, anh Sơn Đậu, bà Ngại, o Trường, chú Cò Dinh (Hoàng), o Trương, ông Dụ, ông Hương, ông Cụ Điểm, ông Tân, ông Lê Tùng Thư…Xin thắp nén hương lòng để tưởng nhớ đến vong linh các ngài. Cuộc sống hôm nay khá đầy đủ, sung túc, vì thế mỗi độ Tết hay giỗ Tổ về, nghĩ đến họ mà thương. Làm sao quên được hình ảnh: ông bà Đệ, ông bà cụ Định, ông Học Thuyên, ông bà Từ Thanh, ông Lý Như, ông bà Huy, ông bà Lạc, ông bà Hoan Tân Lập, ông Tụng, ông Việc Uy, ông bà Giáo Châu, ông bà Huấn, ông Đoàn Xuân, bà Ngụ, bà Giao, ông bà Chu, ông Vang, ông bà Hạ, ông bà Mão, ông bà Hòe Ấp, ông bà Phong, ông Tấn bà Liên, ông bà cụ Giáp, bà Đoàn Tỉnh, ông bà Ngô Sĩ, ông bà Tỉnh, ông bà Nho, ông bà Tám Xô, ông giáo Thảo, ông Thái, ông bà Khiêm, ông bà Nghiêm, bà Đường, ông bà Kiệm An, mẹ con Bà Khang chú Vịnh, bà Sáu Đẳng, ông bà Tám Diện, ông bà Diệu Thơ, ông bà Diệu họ Tân Lập, bà Phó Nụ, ông bà Hoan, ông Bảy bà Lục, bà Côi, ông bà Minh Bắc, bố con ông Minh Quỳnh, ông Học Thuyên, ông Tuệ, ông Nhàn, bà Thục, bà Đàn, bà Tư, ông Mão, ông bà Thức, bà Phụng …nhiều lắm không kể xiết! Họ đã ra đi và không bao giờ trở lại! Xin tri ân các ngài đã một thời làm rạng danh xứ Thuận.

Nhắc đến họ là trân trọng dành cho các ngài một chỗ đứng trong tái tim. Nhắc đến họ là nhớ đến những kỷ niệm thân thương mà một thời họ đã ghi đẫm dấu chân trên mảnh đất xứ Thuận. Nhắc đến họ là nhớ đến công lao vun đắp quê hương và tôn tạo quê hương thêm đẹp, và nhất là đã chọn vùng đất xứ Thuân để dừng chân lập nghiệp để cho con cháu mai sau được thừa hưởng. Tình yêu quê hương thật sự không cho phép chúng ta lãng quên họ. Thỉnh thoảng bạn hãy nhắc đến tên họ và viếng thăm nơi các ngài an nghỉ. Bởi “Cây có cội, nước có nguồn.” Và bạn nên biết rằng: Thiên đàng không có chỗ cho những người “trống vắng” lòng biết ơn.

Ngày ấy nghèo mà vui! Ca đoàn Cecilia và Têrêxa lúc nào ca viên cũng đông đúc và nhiệt tình, ca đoàn có đến 6, 7 người tập hát, một người một bè. Mỗi lần có dịp lễ lớn hay lễ nhỏ đến là bầu khi giáo xứ vui hẳn lên như: Noen, bổn mạng giáo họ hay tháng Hoa về, thế là các giáo họ có dịp thi thố tài năng của mình. Họ nào dâng hoa cũng hay, làm Noen cũng đẹp, đủ mọi sắc thái. Các Ca vãn dâng hoa của mỗi giáo họ khác nhau, giờ thì được mấy người biết đến và dần dần sẽ đi vào quên lãng. Còn nhớ chiều nào cũng được thưởng thức màn đánh cờ tướng tại nhà ông Bộ Nam và nhà ông Huyên thật vui, cứ quanh đi quẩn lại cũng chừng ấy con người: Ông Bộ, ông Đệ, ông Huyên, ông Hai Say, ông Phúc, ông Phương, ông Lạc, ông Mười Chít, ông Nông…mà làm rổn ràng. Hay nhất là xem ông Nông thi đấu với ông Huyên, mỗi ông mỗi tính: ông thì từ từ, ông thì hay kháu hay vùng vằng, khích nhau. Ông Nông bắt được quân cờ của đối thụ là thẳng tay phan một cái thật mạnh, vung cả bàn cờ, vui lắm! “Thắng thì làm vua, thua thì làm giặc”. “Hạ thụ bất hoàn”. “Thua là con cua be rượu”, trở thành một điệp khúc quen thuộc. Mỗi chiều về các đối thụ cờ tướng gặp nhau làm vui cả một góc trời. Giờ thì không ai “kế thừa” bởi cái thời @ đã làm đánh mất đi bản chất vốn đáng yêu của quê hương. Hội cờ tướng của xóm Yên Lưu đã ra đi mang theo cả một niềm vui mà giờ không tìm lại được. Thỉnh thoảng chiều về lại nghe tiếng sáo trúc và tiếng Madolin của ông Đệ và ông Huyên vang lên làm trào dâng trong ta cảm giác thanh bình. Tên của các giáo họ ngày xưa thật đẹp: Thuận Nghĩa, Yên Lưu, Thuận Thanh, Tân Lập. Mỗi họ có nét gì đó rất đặc trưng, từ giọng nói đến cung cách sống, tạo lên sự phong phú cho giáo xứ. Cái tên thân thương ấy “mang theo” từ ngoài Bắc vào Nam từ biến cố di cư năm 1954, giờ đã bị “chối bỏ”. Thử hỏi: Ai có quyền thay tên đổi họ? Vậy mà các tên vốn dĩ rất riêng ấy cũng bị “khai tử” không thương tiếc.

Thật buồn khi người ta thiếu hiểu biết và thiếu tôn trọng những giá trị truyền thống ngàn đời của cha ông, của bao đời để lại. Họ đã phản bội với quê hương, phản bội với tổ tiên. Thiện nghĩ, các tên gọi: Thuận Nghĩa, Thuận Thanh,Yên Lưu, Tân Lập vẫn luôn đọng lại mãi trong tim của những người đã một thời gắn bó với mảnh đất thân yêu này, và chắc rằng, tên tuổi ấy vẫn còn lưu truyền mãi trong dòng lịch sử xứ Thuận. Lời bài hát “Mẹ Năm 2000” của Phạm Duy lại càng làm ta thêm khắc khoải và tiếc nuối: “Đừng quên tiếng nói tên họ đừng thay, cuối thế kỷ này mẹ đã hai mươi.” Chưa hết, mỗi lần nhắc đến cái chuông bị “gã làm dâu” cho xứ Phú Lâm mà lòng vẫn còn thấy buồn! Bao giờ xứ Thuận mới lại được nghe tiếng chuông thánh thót xa xưa mà nó đã gắn bó với xứ Thuận kể từ ngày thành lập xứ. Nói đến cái chuông lại nhớ đến người giật chuông một thời, đó là ông Cần, ông Mục (ông Một). Họ thất đáng yêu!

Đến hẹn lại lên, dịp giỗ Tổ cũng là dịp cho mọi người con xứ Thuận tìm về cội nguồn, gặp gỡ nhau trong tình thương mến, tìm đến nhau “tay bắt mặt mừng”, sau những ngày xa cách, bởi tình quê hương và tình làng nghĩa xóm vẫn còn đó! Bao kỷ niệm sống lại, kẻ còn người mất, kẻ đi người ở lại, dẫu biết rằng đó là quy luật tự nhiên, nhưng sao lòng vẫn toát lên bao nỗi niềm!

Lm Châu Linh